Thương tiếc nhà thơ Khoa Hữu

khi trận mạc tiến theo đoàn xe sắt
sắt chảy như bùn đâu tiếc thân
tối ngủ đứng ngồi trong lỗ huyệt
sớm sớm vươn vai mừng thấy ta còn
( Ba Thu)

Từ trong nước vừa cho biết: Nhà thơ Khoa Hữu vừa tạ thế tại VN vào ngày 5 tháng 4 năm 2012 lúc 4.30 pm. Tang lễ sẽ cử hành vào sáng Thứ hai ngày 9/4/12.

Trong nỗi mất mát quá to lớn này, những bạn bè thân hữu của tạp chí Thư Quán Bản Thảo xin được gởi đến gia đình người quá cố lời chia buồn  sâu xa nhất của chúng tôi. Cầu nguyện hương hồn nhà thơ sớm được siêu thoát .

Tiểu sử nhà thơ

KHOA HỮU, tên thật NGÔ ĐÌNH KHOA sinh ngày 21 tháng 8 năm 1938 tại Bắc phần. Đào thoát vào Nam tháng 3 năm 1953. Tốt nghiệp Bách Khoa hệ Cao đẳng 4 năm. Bị tù chính trị oan, mất sở làm. Sau đó đi dạy tư 4 năm. Đi lính tác chiến 10 năm, bị thương 2 lần. Đã đăng thơ và truyện ngắn trên vài tạp chí văn học tại Sài gòn. Đến tháng 4 năm 1975 giải giáp. Trong thời gian tại thế, ông vẫn âm thầm sáng tác, không hợp tác với bất cứ tạp chí, tổ chức văn nghệ nào của chế độ hiện hành.
Đã xuất bản sau năm 1975:
1/ Tập thơ LỤC BÁT do nhà xuất bản TRÌNH BÀY và nhà thơ DIỄM CHÂU ấn hành tại PHÁP năm 1994.
2/ Tập thơ THƠ KHOA HỮU do tạp chí VĂN HỌC phát hành tại MỸ.
3/ Nửa khuôn mặt, tập thơ lục bát do Thư Ấn Quán Hoa Kỳ xuất bản 2010
Tập thơ này được sự bảo trợ tài chính của nhà thơ Nguyễn Thanh Châu.

Những tác phẩm đã hoàn tất chờ in:
– LỜI BẠT MỘT TÁC PHẨM ( truyện dài )
– NHỮNG VIÊN ĐẠN( truyện ngắn )
– Tập văn xuôi viết về nhiều tác giả.
– LỬA ( tập thơ ).

Tạp chí Thư Quán Bản Thảo được hân hạnh ông tin cậy chọn  gởi sáng tác. Mỗi lần bạn bè từ VN về lại Mỹ , ông đều nhờ chuyển bài vở đến chúng tôi. Ngoài những sáng tác đăng trên tạp chí, chúng tôi còn xuất bản tập thơ lục bát Nửa Khuôn Mặt vào năm 2010.

Những trang post hôm nay chúng tôi dành đăng lại những sáng tác của ông trước và sau 1975 như là nén hương lòng gởi lên hương hồn người đã khuất.

Khoa Hữu: Cái chết của một tượng đá

CÁI CHẾT CỦA MỘT TƯỢNG ĐÁ

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=thuquanbanthao&d=van_hoi_hoa
 

DẪN THƠ:

Vào cuối thập niên 60, đơn vị tôi thất trận, bổ sung gần một nửa quân số cấp tiểu đoàn gửi ra trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp. Đoàn xe đi qua nghĩa trang Biên Hòa thấy bức tượng lính dựng trước ngả  ba cổng như nhìn theo, mỉm cười.

Vài năm sau đôi lần tôi theo trực thăng chở xác đồng đội hy sinh về nhà vĩnh biệt, khi trở về đơn vị bằng xe Jeep của hậu cứ đón qua đây, bức tượng đá ấy vẫn như nhìn theo, vẫn như mỉm cười.

Năm 1990 tôi viết bài thơ này như những giọt nước mắt tìm thấy từ ký ức và muốn lưu giữ một mình.

Năm 2010 tình cờ được biết tác giả của bức tượng, nhà điêu khắc Nguyễn Thanh Thu còn đang sống tại Saigon.

Tôi đăng bài thơ này nghĩ còn kịp để chia sẻ cảm xúc với anh, và với những người bạn chiến đấu khác một thời đã qua đó, đã gặp bức tượng lính hiển hiện cả sự sống và cái chết.

                                                              Saigon, 2011

 

Cái chết của một tượng đá

Si Dieu existe, que souhaiteriez vous qu’il vous dise après votre mort.

Tạc mãi đau thương người thành đá
ngồi canh đồng đội đã bao năm
cây súng gác ngang đời không ngủ
chiếc ba lô vai nặng vết hằn.

Người ngồi đó, mở trang bi sử
chiến bào như thấm máu chưa khô
ta ngồi đó xanh hàng bia mộ
áo nhung rêu cũng bạc dấu thù.

Ta muốn hỏi người từ đâu đến
bèo mây hạnh ngộ, có nhớ ta
ta về từ những vùng, khu chiến
bọc kinh hoàng xương mất, để da.

Ta muốn hỏi người, câu sinh tử
mắt trẻ thơ, môi cánh hoa đào
trán cô phụ băng lời tình sử
tóc mẹ già phủ mặt chiêm bao.

Cái chết – những con thiên nga trắng
ngàn năm tuyệt tích trời đông phương
anh hùng mạt lộ, chiến trường tận
đâu trái tim của một gã cuồng?

Đêm thập tự hàng hàng, vấn tội
đồi bạch dương chụm những đầu ma
oán sâu sương khói cao mù núi
sát thời gian, người, đá hay ta.

Mười năm, lại mười năm sống sót
chuyện dữ tan tành, đồng đội đâu
đất nghĩa trang nhớ hoang dại mọc
quê nhà đây, cỏ mới, ngang đầu.

                                  Saigon 1990.

Sự tích của đá và người

Trên tảng đá ấy sự sinh tồn
gã tóc xám ngồi cơi dĩ vãng
để nước mắt nhỏ thấm trăm năm
mục rã hết những tà thuyết luận.

Cuộc hành hương dọc suốt lịch sử
mấy mươi năm tối nhọ mặt người
mỗi sợi tóc bạc đi thế sự
những ngón tay mài. ngọn bút tôi.

Đất ấy, sấm rung truyền lời hịch
núi rừng thiêng đứng dậy hai vai
bút hóa thành gươm. thơ thành lửa

ta làm ma ôm đá chống trời.

(nguồn: Tạp chí TQBT số 46 tháng 4-2010)

 

Khoa Hữu: Thơ viết trong bóng tối

(từ Thư Quán Bản Thảo số 40 tháng 12-2009)

Đêm trước ngày triệu tập

Đêm, nghe hơi thở cầm canh
sớm mai còn ngấn lệ quanh mắt người
ơn em hàm chút ơn đời
buồn chia chưa đủ môi cười tiễn nhau.

Cầm bằng bước lỡ mai sau
tóc  xưa đã cắt ngang đầu làm tin
chẳng chân cứng cũng đá mềm
chẳng quên đời thảng thốt quên từng ngày.

–  Cầm bằng ta hạt bụi bay.

Số 3c đường…

Bước đi, tội nặng hai vai
đá xanh vết lở đường dài cơn đau
đến đây, bè bạn trước sau
gốc xưa xác lá ngọn sầu quê hương
đến đây, nghiêm cấm linh hồn
cỏ lên hoang phế bụi chôn tháng ngày
cửa ơi đóng nhẹ bàn tay
gió ơi tiếng khẽ đêm hay giật mình
kẽm gai nhọn huyết bình minh
hoàng hôn như bịt mắt nhìn thấy đâu
thương ta sợi tóc trên đầu
mọc thân trên ghế để râu quanh hàm

–  thương ta thơ cũng lầm than.

Tình khúc cho vợ

Ví người thắt cổ ta, đây
dây oan xin hãy nhẹ tay-tơ hồng
treo trên ngày tháng hư không
đêm canh ác quỷ ngày trông gian tà.

Ví người chết thế dùm ta
tiễn người ta nguyện đưa qua chín tầng
cực hình chia ở thế gian
vai gông chân xích ta mang dùm người.

đường đi ta vẫn ngậm cười
môi hôn đã chạm nỗi đời biệt ly.

Thư cho con

Còn tôi cháy nám như than
giữa cơn lửa, khát vọng tan tứ bề
mặt tôi xanh xám cơn mê
đời lăn lóc tưởng đã lìa bỏ than
xin chân để buộc dây thừng
xin tay để thắt cổ chung một ngày
xin lời thiên hạ phanh thây
vết đinh vết búa đã đầy vết tôi
mai sau ơn khất oán đòi
đem thơ ta chuộc nợ đời, nghe con.

Gửi dĩ vãng

Nhớ ta ngày tháng chiêm bao
thăm ta, vừa có kẻ nào chết đi
nắm xương da bọc nỗi về
đường xa thấy mặt phân ly nét sầu
nhớ ta đất đã bể dâu
tang thương chờ lấp mộ sâu cho người
thăm ta, còn kiếp luân hồi
nhớ ta, còn nỗi nhớ ngoài nghìn nă

Khoa Hữu †: THƠ VIẾT DƯỚI THẬP GIÁ

thơ Khoa Hữu

Dẫn thơ:

Vào những năm 66, 67, 68 chúng tôi thường có những buổi cầu nguyện ngắn ngủi trên trực thăng hay trên thiết vận xa trước khi đổ quân. Nhiều người lính đã bị bắn chết trong giây phút cầu nguyện ấy. Trong số những người lính đó, có hai người là bạn và cũng là cấp chỉ huy của tôi.

– Nguyễn Xuân Hùng, đại úy bị thương ở chiến trường Campuchia 1970, bây giờ sống thương tổn ở Mỹ.

– Vũ Văn Nhâm, trung tá, hy sinh ở Tam Giác Sắt, an nghỉ tại nghĩa trang Phú Bình.

Và tôi đang ở VN viết những bài thơ này thay lời cầu nguyện, giãi bày cho một thời ấy và cho tôi bây giờ nỗi cô đơn lạnh lùng trong góc một giáo đường ngày Chủ nhật.

Tranh Thái Tuấn

Continue reading Khoa Hữu †: THƠ VIẾT DƯỚI THẬP GIÁ

Khoa Hữu: Một truyện ngắn trước 1975

*

Bốn mươi năm sau, 2010 tôi mới có ý định phổ biến câu chuyện này với chủ tâm khác gửi đến những người cầm bút từ phía khác “Lịch sử chưa bao giờ là một ngộ nhận, xin hãy viết lại lịch sử bằng trái tim và sự trân trọng” 

      

Những Viên đạn

Truyện của Khoa Hữu

Vào truyện,
 Khoảng cuối năm 1967. Một giang-đoàn Mỹ đổ bộ đơn vị chúng tôi vào phía tả ngạn Đông Vàm-Cỏ-Tây. Suốt một ngày hành quân không thấy một bóng người, chỉ còn ruộng, vườn hoang hóa đầy dấu vết của bom, đạn. Từng nhóm mộ đất trên những gò cao, mưa nắng đã bào mòn, một vài thân cây làm dấu cắm trên mộ ngả nghiêng. Mỗi nhóm mộ là của một dòng họ, gia đình riêng biệt…
đọc tiếp

Khoa Hữu: Vài sáng tác tiêu biểu trước và sau 1975

Trước 1975 (dưới bút hiệu Ngô Đình Khoa)

Lính thú

 

căn cứ Bleynhey mùa mưa nước nổi
sống ở bờ cao chung với kiến vàng
ngày nắng hạ cháy da làm lính mọi
đêm mưa cùng đào hố nước ở hang

nón sắt thay nồi thuốc bồi mồi lửa
cơm dọn ra nửa sống nửa khê vàng
miếng được miếng không nuốt ngày sống vội
như nữa đây chết vội đến phiên chăng ?

ăn nghỉ tiến quân chung giờ làm một
súng với ta thân thiết như tình
ngụm nước mát dành hành quân rất tuyệt
miếng giẻ khô phòng mưa súng rỉ han

người làm giặc từ bắc phương tràn tới
giáp trận súng tay cơm vắt muối vừng
miệng giải phóng lưỡi điêu ngoa trăm tội
tim óc người chất ngất những lòng căm.

đêm thức ho khan ta chờ người tới
(nghìn đứa như ta nghĩ cũng nực cười)
người với ta bỗng một còn một mất
súng đạn bày trò sống chết như chơi

ta bắt được người gọi tên vô sản
người bắt được ta gọi lính ngụy quyền
khi xưa sống tổ tiên chung một họ
máu chia ngành giờ hết anh em

ta vượt biên đến đây làm lính thú
máu đổi xương đổi đất từng miền
thèm ngủ thèm ăn chưa bằng được chết
mộ đã yên giờ cỏ đã xanh lên.

                       tặng anh em TĐ 1/46

 

Ba Thu

Trú quân ba thu non một tháng
ngày ăn mắm ngóe tối di quân
tóc râu thậm thượt theo mưa nắng
mặt nổi mụn nhang da cóc ngu đần

hành trang mặc theo bộ đồ độc nhất
cấp số đạn dư đùa để nuôi con
quần áo rách xé tay chân thêm cụt
tắm vận sà rông cho giống diễn tuồng

khi trận mạc tiến theo đoàn xe sắt
sắt chảy như bùn đâu tiếc thân
tối ngủ đứng ngồi trong lỗ huyệt
sớm sớm vươn vai mừng thấy ta còn

khi dưỡng quân khề khà dăm ly đế
ngất ngưởng say ta học nói tiếng Miên
quên chữ thánh hiền quên con quên vợ
ta như than lem luốc đủ trăm miền

ta như thế hỡi những chàng du kích
sợ gì ngươi ta e sợ chính mình

quân trú ba thu hơn một tháng
ghẻ cóc mụn nhang lạ nước thay da
tim với óc hỡi ơi còn chết được
ngày lui quân xin xác gửi quê nhà.

(trích từ Thơ Miền Nam trong Thời Chiến, Thư Ấn Quán sưu tầm và xuất bản 2008)

♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦

 Sau 1975 ( Khoa Hữu)

Ký ức An Lộc

 

Về qua An Lộc một ngày
thấy ta còn dấu phỏng vài vết bom
nghe rừng thay áo đông phương
oán trên ngọn cỏ, oan dồn bóng cây
đồi nương xanh lại đất này
anh em cũng lạ tội đời cũng quên
quê nhà đâu, hỡi hồn thiêng
lịch sử đâu đã viết tên họ gì
chiến trường đâu máu phân ly
mộ bia đâu, đá khắc ghi hận thù
người đầu kẻ cuối hư vô
hồn chung ngọn gió biên khu thổi dồn.

Trở lại chiến trường Xuân Lộc

Về đây tìm lại ta ư
ngày thư ngải độc đêm như yểm bùa
tìm gì trong sỏi đá, thưa
tìm gì dưới gạch ngói xưa chôn vùi
rừng như vuốt mặt làm vui
núi như cúi xuống nửa đời vì ta
đất còn đỏ mãi can qua
trời còn băng những mảnh da đã vàng
gió gầm lên tiếng xé tan
mây lồng lên bóng dọc ngang một thời
nhớ ơi, vai súng hoa cài
nắng nung mắt lửa mưa mài biên cương.

Ngồi bệnh

Đêm ơi, thuộc một mảnh da

mềm chưa để đắp mặt ta tật nguyền

trang giấy lệch, hàng chữ nghiêng

câu thơ tàn phế bút nghiên thằng khờ

chết đi sống lại bao giờ

đời ta cỏ bụi lau mờ đã xanh.

Những dấu chân trên bãi biển

Bãi lầm sóng đánh ầm theo

mắt xa buồn đậu thuyền neo chưa về

đá chờ giải hạn cơn mê

trời thư đất yểm bốn bề gió tung

biển vô tâm đến lạnh lùng

khác thời vong bản vẫn chung da vàng

loạn đời ư, tận thế chăng

bước nghiêng biển lớn cát bằng hư vô.

Bức họa chân dung biển đông

Ta ngồi lên thét thinh không

chớp đen nỗi giận chập chùng biển cơn

gió đi những bước chân dồn

trầm luân lũ đá đứng còn trơ trơ

sóng hôn môi bãi điên rồ

nước ngâm xương trắng tình xưa dã tràng

ngàn năm đất ải bụi tang

hối thân đất lở kinh hoàng ngọn lau

mấy lòng bể mấy hồn dâu

còn đây mảnh áo mai sau mảnh trời.

Ta cùng biển lỡ

          .tặng KHUẤT DUY TRÁC

Biển mù, sương động, thinh không

bao la một võng vô cùng một nôi

tạ ơn, ta thủa làm người

ti li cát mọn vỡ lời biển đau

gió cùng cao sóng cùng sâu

lao đao mấy độ bụi lau đã già

trời còn xa đất cũng xa

trăm năm biển lỡ một ta chưa về.

Sài gòn 1980 – 2000

(nguồn: Tạp chí Thư Quán Bản Thảo số 45 tháng 1-2011)